ĐI CÙNG HÁN SỞ

Các bài viết dưới đây dựa trên phim Hán Sở kiêu hùng của TVB.
  1. Phất cờ khởi nghĩa (揭竿起義)
    Chuyện kể rằng Tần mạc bạo chính, quan bức dân phản. Trần Thắng, Ngô Quảng lãnh đạo bá tánh khởi nghĩa. Lúc đó triều Tần nghiêm cấm dân gian tàn trữ binh khí. Họ bèn lấy những vật liệu có sẵn tại chỗ, đóng gỗ làm thành binh khí cho riêng mình. Lấy cây làm cờ, dùng khúc cây làm cán cờ. Cho nên câu “Phất cờ khởi nghĩa” chính là ám chỉ bá tánh bình dân khởi nghĩa.

Phá phủ trầm châu

(Chữ Phủ là chỉ nồi, còn chữ Châu là chỉ thuyền). Nguyên ý của thành ngữ này là đập vỡ nồi và dìm chiến thuyền.

Câu thành ngữ này có xuất xứ từ "Sử ký - Hạng Vũ bản kỷ". Vào những năm cuối triền nhà Tần, nước Tần đánh nước Triệu, khiến vua nước Triệu phải lui về cố thủ ở Cự Lộc (tức phía tây nam huyện Bình Hương, tỉnh Hà Bắc ngày nay) thì bị quân Tần bao vây. Vua nước Sở được tin đã phong Tống Nghĩa làm thượng tướng, Hạng Vũ làm phó tướng cùng dẫn quân sang cứu nước Triệu.
Tống Nghĩa dẫn quân đến An Dương thì chốt lại ở đó 46 ngày. Hạng Vũ không biết lý do đã nhiều lần thúc Tống Nghĩa nên nhanh chóng hợp quân với nước Triệu rồi trong đánh ra, ngoài đánh vào thì quân Tần tất bị thất bại. Nhưng Tống Nghĩa muốn đợi hai bên Tần Triệu đánh nhau mệt rồi mới tiến đánh, nên đã ra lệnh nghiêm cấm quân sĩ không ai được tùy ý hành động. Sau đó, Tống Nghĩa mở tiệc mời khách ăn uống no say, bỏ mặc cho đám quân lính bị đói khát.

Bài học về diệt cỏ dại

 
Một nhà hiền triết dẫn một toán học trò của mình đi ngao du khắp chốn trên đời. Trong vòng 10 năm trời thầy trò họ theo nhau đi hầu hết các nước, gặp gỡ hầu như tất cả những người có học vấn. Lúc này, thầy trò họ đã trở về, người nào người nấy kinh luân đầy một bụng, kinh nghiệm đầy mình.
Trước khi vào thành, nhà hiền triết ngồi nghỉ trên một bãi cỏ ở ngoại thành, nói với học trò của mình: - Mười năm ngao du, các con đều đã trở thành kẻ sĩ học rộng hiểu nhiều, lúc này đây, sự học sắp kết thúc ta sẽ giảng cho các con bài học sau cùng.
Các học trò kéo đến ngồi vây quanh nhà hiền triết. Một lát sau, nhà hiền triết hỏi:
- Hiện chúng ta đang ngồi ở đâu?
Các học trò đồng thanh trả lời rằng đang ngồi trên bãi cỏ hoang ở bên ngoài thành. Nhà hiền triết lại hỏi:
- Trên bãi cỏ hoang này có cây gì mọc lên?
Học trò đồng thanh đáp:
- Trên bãi hoang mọc toàn cỏ dại ạ!
Nhà hiền triết nói:
- Đúng! Trên bãi cỏ hoang này mọc toàn cỏ dại. Bây giờ ta muốn biết bằng cách gì để trừ hết thứ cỏ dại này đi?

Tích cân voi


[IMG]

Tào Xung được công nhận là một người đặc biệt tài năng và thông minh từ khi còn rất nhỏ. Khi cậu bé lên 6 tuổi, trí thông minh của cậu được mọi người cho là đã tương đương với một người lớn.

Hoa đào năm ngoái …

Thôi Hộ, một danh sĩ đời nhà Đường (618-907), nhân dự hội Đạp Thanh đến Đào Hoa Trang, gõ cửa một nhà xin được giải khát. Một thiếu nữ đứng thập thò bên cửa đưa nước cho chàng. Nàng đẹp, duyên dáng, e lệ. Chàng đưa tay tiếp lấy bát nước. Đôi tay trai gái chạm nhau. Nàng ngượng ngùng, cúi mặt xuống. Đôi má hây hây đỏ như đóa hoa đào. Chàng rụt rè, ngượng nghịu. Đoạn từ giã đi.
Nhưng rồi đèn sách và mộng công hầu không xóa mờ hình bóng của giai nhân. Đào Hoa Trang vẫn gợi lên một hình ảnh đầm ấm trong trí não, khiến lòng chàng nho sinh chan chứa biết bao tình cảm mặn nồng...
Rồi năm sau, ngày hội du xuân đến. Thôi Hộ tìm đến Đào Hoa Trang. Cảnh cũ còn đó, nhưng con người xưa vắng bóng. Cửa đóng then cài. Chỉ có ngàn hoa đào rực rỡ phe phẩy theo gió xuân như mỉm cười, chào đón khách du xuân.
Ngẩn ngơ, thờ thẫn trước cảnh cũ quạnh hiu, Thôi Hộ ngậm ngùi:
- Hay là nàng đã về nhà chồng!
Từng bước một, chàng quay bước trở ra. Lòng cảm xúc vô hạn, rồi muốn ghi lại mấy dòng tâm tư của mình, chàng thảo mấy câu thơ trên cửa cổng:

    Năm ngoái ngày này vẫn cửa trong,
    Hoa đào mặt ngọc đối vầng hồng.
    Mặt hoa nay biết đi đâu vắng?
    Chỉ thấy hoa đào cợt gió đông.
    Nguyên văn:
    Khứ niên kim nhựt thử môn trung,
    Nhơn điện đào hoa tương ánh hồng.
    Nhơn điện bất tri hà xứ khứ?
    Đào hoa y cựu tiếu đông phong.


ÁI ỐC CẬP Ô ( 爱屋及乌)

Giải nghĩa : Chỉ vì yêu thích căn nhà mà yêu cả con quạ trên mái nhà nữa .
Cách dùng : Dùng để chỉ việc vì yêu thích một người nào đó mà yêu luôn cả những gì liên quan tới người đó ,Yêu người yêu cả đường đi, ghét người ghét cả tông ti họ hàng.
Ví dụ: 这是件爱屋及乌之事,她不会去除非他被邀请了。
/Zhè shì jiàn àiwūjíwū zhī shì, tā bù huì qù chúfēi tā bèi yāoqǐng le./
Đúng là yêu ai yêu cả đường đi, con bé nhất quyết không đi trừ phi tên kia cũng được mời đến.

Xuất xứ :
Đời nhà Chu, sau khi lật đổ Trụ Vương, trong lòng Chu Vũ Vương vẫn chưa yên bởi thiên hạ vẫn chưa thái bình. Ông cho triệu kiến các trọng và hỏi : “Sau khi vào An đô, ta nên xử trí những quyền thần quý tộc, quan binh của triều đại cũ ra sao ?”

Nhất ngôn cửu đỉnh, tứ mã nan truy

Trên Yahoo hỏi đáp có câu trả lời hay quá, đăng lên cho mọi người tham khảo:
Quân tử là từ dùng để chỉ những người biết cách xử thế, có học vấn trong xã hội phong kiến. Khái niệm này do Khổng Tử đưa ra để dạy con người biết cử xử, ăn ở, đối đãi giữa người với người, người với xã hội, người với thiên nhiên. Ví dụ như "Tam cương ngũ thường", "Tam cương" tức là 3 mối ràng buộc về mặt quan hệ trong xã hội gồm "Quân - Sư - Phụ" tức là "Vua - Thày dạy - Cha". Tam cương dạy người ta trên kính dưới nhường, là 3 loại người mà người quân tử phải thờ phụng, trung hiếu. Còn "Ngũ thường" tức là Nhân - Lễ - Nghĩa - Trí - Tín. Người quân tử phải biết yêu thương đồng loại (Nhân), phải có phép tắc tôn ti (Lễ), phải có tình nghĩa, phải có trí tuệ (tức là còn phải biết đi học và xử lý tình huống) và cuối cùng là phải biết giữ lời hứa (Tín).
Xét về nghĩa đen thì còn có thể hiểu "Quân tử" là con vua, hoặc cũng có thể hiểu là Người (tử) có tinh thần, khí chất cao minh, đức độ như Vua (Quân là Vua). Quan niệm về quân tử nói chung còn rất nhiều nhưng cơ bản là như vậy.
Khái niệm Tín trong Ngũ thường dẫn đến quan điểm "Quân tử nhất ngôn" và "Nhất ngôn cửu đỉnh".
Nhất ngôn là 1 lời, tức là nếu anh nói ra 1 lời thì phải giữ lời, phải chính xác, phải trước sau như một. Còn ngược lại mà ăn nói 2 lời, ăn ở 2 lòng, lèm bèm, dèm pha thì gọi là kẻ tiểu nhân. Ai hay lèm bèm, suy bụng ta ra bụng người (theo nghĩa xấu) thì hay bị coi là "Lấy lòng kẻ tiểu nhân để đo lòng người quân tử". Nhưng ai không làm được chữ Tín hoặc không tán thành quan điểm trên thì hay nói lái đi rằng "Quân tử nói đi (tức là nói 1 lời) là quân tử dại, quân tử nói lại (tức là nói 2 lời) là quân tử khôn".
Do đó, khi nói anh là quân tử thì phải thế này thế kia tức là mong muốn anh phải xứng đáng làm thằng đàn ông, phải làm được những việc tốt ABC nào đó, được người đời khen ngợi và tán thưởng...
Vì quan niệm Quân tử do Khổng Tử đề xuất vào thời phong kiến trọng nam khinh nữ nên Quân tử không dành để chỉ người phụ nữ.
Tiếp theo là "Nhất ngôn cửu đỉnh". Nhất ngôn như đã nói ở trên là "1 lời". Một lời nói ra phải có trọng lượng, được nhiều người tuân theo và kính nể, là lời nói hợp tình hợp lý, lập luận sắc bén.
Để đo trọng lượng theo nghĩa bóng đó, người ta ví với "Cửu đỉnh" theo nghĩa đen. Đỉnh là cái vạc bằng đồng thời xưa, thường đúc để đốt hương thờ cúng, thực hiện những nghi lễ trọng đại của quốc gia. Trên thân Đỉnh và trong lòng cái Đỉnh còn khắc những chữ nhằm ca ngợi công đức tổ tiên, hoàng đế, những lời răn dạy của thánh hiền... Thời phong kiến, Cửu đỉnh bằng đồng to và rất nặng, mỗi cái to cỡ 1 con trâu với trọng lượng cũng phải từ 200kg trở lên. Ai có Cửu đỉnh thì được suy tôn làm vua, hay nói cách khác chỉ có vua mới có Cửu đỉnh. Hiện nay, ở Kinh thành Huế (Đại Nội) vẫn còn chín cái đỉnh đồng, mỗi cái nặng khoảng 200kg, từng suýt bị giặc Pháp lấy đi đúc làm súng đạn. Trên thân Cửu đỉnh vẫn còn nhiều vết đạn bắn vào. Bên Trung Quốc, trong Tử Cấm Thành cũng có Cửu Đỉnh của nhà Thanh , mỗi cái nặng ngót 1 tấn.