Chuyển đến nội dung chính

Bài đăng

Hiển thị các bài đăng có nhãn Chiết tự Hán tự

Chữ ĐIỂN 典

Chữ ĐIỂN viết là “典”, thuộc dạng chữ Hội ý. Trong Giáp cốt văn chữ ĐIỂN được miêu tả bằng hình ảnh hai tay dâng sách rất kính cẩn, ngụ ý đây là văn kiện hay loại tài liệu gì đó rất quan trọng. Nghĩa gốc là của ĐIỂN 典 là sách vở, các nghĩa phái sinh là “chuẩn mực”, “phép tắc”, v.v…      ĐIỂN 典 là sách, sách ở đây là chỉ các kinh sách trọng yếu của người xưa để lại. Ban đầu, khi nói đến ĐIỂN 典 tức là chỉ “Tam phần ngũ điển 三 墳 五 典”. Tam phần là sách của Tam Hoàng như Phục Hy, Thần Nông, Hoàng Đế. Ngũ điển là sách của Ngũ Đế tức Thiếu Hiệu, Xuyên Húc, Cao Tân, Đường, Ngu. Về sau ĐIỂN được dùng để chỉ chung cho các kinh sách thời xưa.      ĐIỂN 典 còn dùng để chỉ những câu chuyện cũ, sự cũ, như sách ghi các sự cũ gọi là cổ điển 古典. Với nét nghĩa này ta còn có…      ĐIỂN CỐ - ĐIỂN TÍCH典故 - 典跡 là chỉ những việc có chép trong các sách vở thời xưa, được cô đọng lại trong một từ ngữ hay một thành ngữ để nói lên ý nghĩa của chuyện đó. Văn...

Như thế nào là 'đủ', như thế nào là 'tham'?

Chúng ta thường nghe nói: “Biết đủ thì thường vui! Tham lam quá thì mất mạng”. Vậy như thế nào là đầy đủ, và như thế nào là tham lam? Kỳ thực, chúng chỉ cách nhau rất gần mà thôi! Chữ Hán là một loại chữ tượng hình, tức là thông qua hình tượng mà người ta có thể đoán được nội hàm của nó. Trong tiếng Hán, chữ Dụ (Đầy đủ, dư dật: “裕”) và Dục (Tham lam: “欲”) là hai chữ đồng âm và có cấu tạo gần giống nhau, nhưng hàm nghĩa và ý nghĩa lại trái ngược nhau. Trải qua những năm tháng lịch sử, chúng ta biết rằng, Trung Hoa cổ đại là đất nước nông nghiệp. Tổ tiên của người Trung Hoa thông qua trồng trọt cày cấy mà có cái ăn cái mặc. Cũng bởi vì thế mà người Trung Hoa xưa rất quan tâm đến sự thay đổi của thời tiết, nên ở khắp mọi nơi đều có lễ hội tế lễ Thần linh. Họ làm như vậy là mong được mưa thuận gió hòa, mong được có mùa màng bội thu. Người cổ xưa sống đạm bạc nhưng lại vô cùng vui vẻ và thư thái, họ cho rằng cuộc sống như vậy đã là giàu có. Bởi vậy, ngay từ chữ giàu có “裕” đã nói lên tất cả...

Chiết tự chữ Tiền

Chữ TIỀN 前 (qián) này có một quá trình diễn tiến về đồ hình và ngữ nghĩa tương đối phức tạp. Chữ nguyên được viết là “歬” . Một bàn chân người (止) đặt trước mũi thuyền (舟), ngụ ý thuyền đang tiến về phía trước. Sau đó 止 biến thành 䒑 và 舟 viết thành 月 lại thêm bộ ĐAO⺉ trở thành 前 với nghĩa là “cây kéo” , chính là chữ gốc của TIỄN 剪 (cây kéo) ngày nay. Sau khi TIỀN 前 được dùng để chỉ nghĩa là TIỀN TIẾN (tiến lên phía trước) người ta lại thêm vào bộ ĐAO 刀 phía dưới, tạo thành TIỄN 剪 (cây kéo, cắt). Trên đây là quá trình diễn tiến của chữ TIỀN 前. Ngày nay, chữ TIỀN 前 được dùng với nghĩa là TRƯỚC cả về không gian lẫn thời gian: