Chuyển đến nội dung chính

Chữ ĐIỂN 典

Chữ ĐIỂN viết là “典”, thuộc dạng chữ Hội ý. Trong Giáp cốt văn chữ ĐIỂN được miêu tả bằng hình ảnh hai tay dâng sách rất kính cẩn, ngụ ý đây là văn kiện hay loại tài liệu gì đó rất quan trọng. Nghĩa gốc là của ĐIỂN 典 là sách vở, các nghĩa phái sinh là “chuẩn mực”, “phép tắc”, v.v…
     ĐIỂN 典 là sách, sách ở đây là chỉ các kinh sách trọng yếu của người xưa để lại. Ban đầu, khi nói đến ĐIỂN 典 tức là chỉ “Tam phần ngũ điển 三 墳 五 典”. Tam phần là sách của Tam Hoàng như Phục Hy, Thần Nông, Hoàng Đế. Ngũ điển là sách của Ngũ Đế tức Thiếu Hiệu, Xuyên Húc, Cao Tân, Đường, Ngu. Về sau ĐIỂN được dùng để chỉ chung cho các kinh sách thời xưa.
     ĐIỂN 典 còn dùng để chỉ những câu chuyện cũ, sự cũ, như sách ghi các sự cũ gọi là cổ điển 古典. Với nét nghĩa này ta còn có…
     ĐIỂN CỐ - ĐIỂN TÍCH典故 - 典跡 là chỉ những việc có chép trong các sách vở thời xưa, được cô đọng lại trong một từ ngữ hay một thành ngữ để nói lên ý nghĩa của chuyện đó. Văn học cổ thường dùng rất nhiều Điển tích hay Điển cố. Nếu không biết được Điển tích thì không thể hiểu được ý nghĩa của câu văn hay câu thơ ấy một cách tường tận được.
     ĐIỂN 典 cũng dùng để chỉ những Sách được coi là mẫu mực, dùng làm tiêu chuẩn, phép tắc để mọi người có thể noi theo. Như:
     TỪ ĐIỂN – TỰ ĐIỂN 詞(辭)典 - 字典 là sách giải thích ý nghĩa, từ nguyên, cách dùng, cách phát âm, và thường kèm theo các ví dụ về cách sử dụng từ đó.
     Chữ TỪ ĐIỂN, Hán văn có 2 cách viết là 詞典 hay 辭典. Hai cách viết nầy đều đồng nghĩa. TỪ ĐIỂN là bộ sách để tra nghĩa của từng nhóm chữ còn TỰ ĐIỂN là bộ sách để tra nghĩa của từng chữ một.
     Từ điển bao gồm việc giải nghĩa các thành ngữ, điển tích
và các từ ghép. Việc giải nghĩa nầy phải đi từ việc giải nghĩa
từng chữ một, rồi sau đó mới giải nghĩa cả thành ngữ. Cho
nên: TỪ ĐIỂN cũng là TỰ ĐIỂN.
     KINH ĐIỂN 經典là những kinh sách ghi chép các sự việc xưa và các phép tắc đời xưa, để làm khuôn mẫu cho đời sau học tập và bắt chước noi theo.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Lạc Thần Phú

Bài Lạc Thần Phú nổi tiếng của Tào Thực tả mối tình với Chân thị. Chân thị nguyên là con dâu Viên Thiệu, sau khi Tào Tháo phá Ký Châu thì đem gả cho Tào Phi, mặc dù Tào Thực cũng xin được lấy nàng. Về sau Phi trúng gian kế của Quách phi mà bức tử Chân hậu, nhưng rồi ân hận, nên đem tặng Thực chiếc gối của Chân hậu. Tào Thực dạo chơi bên dòng sông Lạc rồi nghỉ đêm tại đó, ôm gối nằm mộng thấy Chân thị, tỉnh giấc làm ra bài phú này, tả giấc mơ gặp nữ thần sông Lạc. Với sự tưởng tượng thần kỳ và từ chương hoa lệ, tình cảm tha thiết chân thành, bài phú trở thành một kiệt tác tình yêu trong văn học Trung Quốc.

Tình nhân trong mắt hóa Tây Thi

Hán Việt:  Tình nhân nhãn lý xuất Tây Thi (情人眼里出西施 - cing4 jan4 ngaan5 leoi5 ceot1 sai1 si1) Dịch nghĩa : trong mắt kẻ si tình, người tình luôn đẹp nhất. Chú thích: Tây Thi (chữ Hán: 西施 - sai1 si1 ), còn gọi là Tây Tử (西子), là một đại mỹ nhân trứ danh thời kì Xuân Thu, đứng đầu trong Tứ đại mỹ nhân của lịch sử Trung Quốc. Tương truyền, Tây Thi có nhan sắc làm cá phải ngừng bơi mà lặn xuống đáy nước, gọi là Trầm ngư (沉魚).  

'Tri chi vi tri chi, bất tri vi bất tri, thị tri dã'

'Tri chi vi tri chi, bất tri vi bất tri, thị tri dã' (Hiểu, biết mà biết mình hiểu biết, thì gọi là hiểu biết. Không hiểu, không biết mà tự biết mình không hiểu, không biết thì xem như đã tự hiểu biết rồi vậy) Luận Ngữ - Khổng Tử Người xưa nói quả nhiên không sai: ' Vô tri bất mộ ' (Hễ không hiểu biết được cái gì đó cho đến nơi tường tận, thì không thể nảy sinh lòng yêu mến được). Xin kể một câu chuyện để làm minh họa.