Chuyển đến nội dung chính

Như thế nào là 'đủ', như thế nào là 'tham'?

Chúng ta thường nghe nói: “Biết đủ thì thường vui! Tham lam quá thì mất mạng”. Vậy như thế nào là đầy đủ, và như thế nào là tham lam? Kỳ thực, chúng chỉ cách nhau rất gần mà thôi!
Chữ Hán là một loại chữ tượng hình, tức là thông qua hình tượng mà người ta có thể đoán được nội hàm của nó. Trong tiếng Hán, chữ Dụ (Đầy đủ, dư dật: “裕”) và Dục (Tham lam: “欲”) là hai chữ đồng âm và có cấu tạo gần giống nhau, nhưng hàm nghĩa và ý nghĩa lại trái ngược nhau.
Trải qua những năm tháng lịch sử, chúng ta biết rằng, Trung Hoa cổ đại là đất nước nông nghiệp. Tổ tiên của người Trung Hoa thông qua trồng trọt cày cấy mà có cái ăn cái mặc. Cũng bởi vì thế mà người Trung Hoa xưa rất quan tâm đến sự thay đổi của thời tiết, nên ở khắp mọi nơi đều có lễ hội tế lễ Thần linh. Họ làm như vậy là mong được mưa thuận gió hòa, mong được có mùa màng bội thu.
Người cổ xưa sống đạm bạc nhưng lại vô cùng vui vẻ và thư thái, họ cho rằng cuộc sống như vậy đã là giàu có. Bởi vậy, ngay từ chữ giàu có “裕” đã nói lên tất cả ý nghĩa “như thế nào là giàu có và sung túc?”
Chữ Dụ (đầy đủ, dư dật: “裕”) do chữ  Y (y phục, quần áo: “衣”) kết hợp với chữ Cốc (Ngũ cốc, lúa gạo “谷”) tạo thành. Nhìn vào chữ ấy có thể thấy, người xưa cho rằng, chỉ cần có quần áo mặc và có lương thực để ăn thì đã là giàu có và sung túc rồi. Ăn no mặc ấm thì liền cảm thấy vui vẻ, hạnh phúc nên phải cảm ơn ân đức của Thần linh. Điều này cũng giống với đạo lý mà người xưa thường nói: “Thấy đủ thường vui!”
Nhìn một chút về cuộc sống của con người ngày nay có thể thấy, việc ăn no mặc ấm đã sớm đạt được rồi. Rất nhiều người không chỉ còn là “ăn no mặc ấm” mà còn có điều kiện “ăn ngon mặc đẹp”. Nhưng như thế vẫn chưa thỏa mãn được dục vọng của con người, vì vậy mà con người vẫn cảm thấy không vui. Đây hết thảy đều là do chữ “Dục” mà thành.
Từ chữ Dục (lòng tham:“欲”) có thể thấy rõ ý nghĩa này. Chữ Dục (“欲”) là do chữ Cốc (ngũ cốc, lúa gạo “谷”) kết hợp với chữ Khiếm (thiếu, không đủ: “欠”) tạo thành. Điều đó ngụ ý rằng, đã có thực phẩm để ăn no rồi nhưng vẫn còn cảm thấy thiếu thì đó chính là tham lam, là không biết đủ.
Dục vọng của con người là vô cùng vô tận, nếu không học được biết đủ, không tu tỉnh lại bản thân, chỉ chạy theo dục vọng thì sẽ có ngày mất mạng. Đúng như người xưa giảng: “Thấy đủ thường vui, quá tham thì mất mạng!”
Nguồn : chuaadida

Nhận xét

  1. Tri túc thường lạc (知足常樂) có nghĩa là Biết đủ là vui, hoặc là Tâm biết đủ là hạnh phúc. Tức là, biết sống giản dị, chỉ cần đủ đầy, không cần xa hoa, quý giá.

    Trả lờiXóa

Đăng nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Tình nhân trong mắt hóa Tây Thi

Hán Việt:  Tình nhân nhãn lý xuất Tây Thi (情人眼里出西施 - cing4 jan4 ngaan5 leoi5 ceot1 sai1 si1) Dịch nghĩa : trong mắt kẻ si tình, người tình luôn đẹp nhất. Chú thích: Tây Thi (chữ Hán: 西施 - sai1 si1 ), còn gọi là Tây Tử (西子), là một đại mỹ nhân trứ danh thời kì Xuân Thu, đứng đầu trong Tứ đại mỹ nhân của lịch sử Trung Quốc. Tương truyền, Tây Thi có nhan sắc làm cá phải ngừng bơi mà lặn xuống đáy nước, gọi là Trầm ngư (沉魚).  

Lạc Thần Phú

Bài Lạc Thần Phú nổi tiếng của Tào Thực tả mối tình với Chân thị. Chân thị nguyên là con dâu Viên Thiệu, sau khi Tào Tháo phá Ký Châu thì đem gả cho Tào Phi, mặc dù Tào Thực cũng xin được lấy nàng. Về sau Phi trúng gian kế của Quách phi mà bức tử Chân hậu, nhưng rồi ân hận, nên đem tặng Thực chiếc gối của Chân hậu. Tào Thực dạo chơi bên dòng sông Lạc rồi nghỉ đêm tại đó, ôm gối nằm mộng thấy Chân thị, tỉnh giấc làm ra bài phú này, tả giấc mơ gặp nữ thần sông Lạc. Với sự tưởng tượng thần kỳ và từ chương hoa lệ, tình cảm tha thiết chân thành, bài phú trở thành một kiệt tác tình yêu trong văn học Trung Quốc.

Thiên nhược hữu tình - Nếu trời xanh có tình

Tháng tám, năm Thanh Long nguyên niên đời Ngụy Minh Đế, vua hạ chiếu sai các quan trong cung dùng xe về phía tây, đem tượng tiên nhân cầm mâm vàng hứng sương của Hán Vũ Đế, về đặt trước cung điện, các cung quan làm gãy mâm, khi xe chuẩn bị kéo đi, tượng tiên nhân bỗng nhiên ngậm ngùi nhỏ lệ. Cháu trong hoàng tộc nhà Đường là Lý Trường Cát bèn làm bài thơ về pho tượng tiên nhân bằng đồng rời cung Hán. Hán Vũ Đế là vị vua hùng tài đại lược, có công trùng hưng Hán thất, đưa Trung Quốc đến buổi hoàng kim. Thuở sinh tiền, do ngạo khí kiêu hùng của bậc đế vương, muốn mình sánh ngang cùng trời đất nên Hán Vũ Đế cho dựng một tượng tiên nhân bằng đồng, hai tay bưng một mâm vàng hứng sương khuya từ mặt trăng rơi xuống để luyện thuốc trường sinh bất lão. Khi Vũ đế qua đời, người ta vẫn hằng đêm nghe tiếng ngựa hý ở nấm mộ của ông ở Mậu Lăng, sáng ra không còn dấu vết. Đến năm Thanh Long thứ nhất (233), Nguỵ Minh Đế Tào Toàn (người kế nghiệp Tào Phi) hạ chiếu cho người kéo tượng đồng...